Trong kiến trúc Việt truyền
thống, ở những công trình công cộng, có tính hoành
tráng như đình chùa hay cung vua, hệ thống cửa thường
là những khung cửa rộng, cánh lớn, tạo vẻ
bề thế, đáp ứng sự tôn nghiêm và việc ra
vào đông người. Những cánh cửa luôn có
một khoảng hở phía trên, được tạo ra
bởi những con tiện, vừa mang tính trang trí, vừa
giảm bớt cái nặng nề của sự đường
bệ.
}
 |
| Cửa trong một khu nghỉ mát mới
ở Hội An. |
Trong ngôi nhà ở, người ta cũng
làm những khung cửa rộng nhiều cánh, nhưng có
bệ phía dưới, cao chừng ba tấc để bước
qua. Phía trên là những cánh xoay, hoặc tháo lắp
được, để linh hoạt trong mọi tình
huống, tuỳ theo mùa, theo thời và cách sử dụng
từng lúc trong ngày. Khi cần đón gió, cần sáng,
hoặc khi nhà có việc ma chay, cưới hỏi, có
thể tháo hết cánh, tạo khoảng mở tối
đa, không gian trong ngoài được giao hoà, tầm nhìn
rộng mở, nhưng không “toang hoác” nhờ cái bệ
cửa bên dưới, ma quỷ không dễ mà vào
được. Ngoài hàng hiên lại có một lớp
giại làm bằng phên tre chắn nắng, lược
bớt cái chói sáng gay gắt buổi trưa, hay mưa
tạt, gió lùa.
Ở thành phố, thị trấn,
huyện lỵ, trong những ô phố cũ, những căn
nhà cửa hàng cũng vậy, lớp thị dân có gốc
từ làng mang ra phố thị bộ cửa chuyên dụng
ấy, rất tiện dụng cho đời sống buôn bán
thị thành. Ngày tháo ra thành cửa hiệu, mở mang nơi
giao tiếp, tối lắp vào thành nhà ở, kín đáo.
 |
| Cửa trong khu nghỉ mát Nam Hải, công
trình được giải thưởng của
Hội Kiến trúc sư. |
 |
| Tấm phên ngoài hiên nhà, che cửa bên
trong, phổ biến ở các căn nhà vùng Bắc
bộ. |
 |
| Cửa nhà phố với hoa văn
đơn giản, bằng sắt, kết hợp
gỗ và kính lấy sáng. |
Những ô cửa sổ trong ngôi nhà
ở truyền thống rất nhỏ, thường
nằm phía sau hoặc bên hông nhà. Là phải rồi, vì
đấy là những hướng xấu, nắng và gió
lạnh. Cốt cho thoáng và lấy sáng một đôi khi.
Nhà thôn quê không phải lúng túng chọn hướng vì
thế đất, cứ “vợ đàn bà, nhà hướng
nam” mà đặt. Mặt tiền hướng tốt
rồi thì cửa mở toang.
Cánh ở hướng xấu thường
bằng gỗ đặc, đóng là kín, hoặc cửa
sổ bật bằng phên tre, nâng lên hạ xuống
tuỳ nắng, gió, mưa trong ngày. Mưa nhỏ thì nâng
cao, nhiều thì hé, bão thì sập kín. Tuy chỉ là
những kinh nghiệm dân gian, nhưng đấy là
những khung cửa có ý thức về một công năng
phù hợp với điều kiện khí hậu, với
nhu cầu sử dụng thiết thực của đời
sống.
Người Pháp đến Đông
Dương và xây dựng ở đây cái “nền”
kiến trúc mà ta hay gọi là “thuộc địa”,
trong đó họ rất coi trọng điều kiện khí
hậu khi thiết kế, xây dựng. Tính nhiệt đới,
gió mùa đã được phản ánh rất rõ trong
những giải pháp thiết kế và công trình. Ngoài
những thành phần kiến trúc như tiền sảnh, mái
hiên, hành lang, ô văng... thì các giải pháp về cửa
cũng là một hình ảnh đặc trưng cho lối
kiến trúc ấy. Những dãy cửa chớp chạy dài
ở hành lang kiến trúc công cộng, hay cửa sổ
biệt thự hai lớp, trong kính ngoài chớp, trên có ô
văng lợp ngói đỡ bằng hệ console gỗ,
hoặc ô văng bê tong là một kiểu điển hình.
Một kiểu rất phổ
biến nữa là loại cửa được kéo
xuống gần, hoặc sát sàn, giữa hai lớp có lan
can, tạo cảm giác mở và gần gũi với bên
ngoài. Lớp cửa kính dùng khi sử dụng hệ điều
hoà không khí, cửa chớp dùng khi muốn thông thoáng
tự nhiên. Cửa chớp gỗ là một đặc trưng
rất nhiệt đới. Nó luôn tạo ra sự ấm cúng
và tính hoài cảm về một thời.
Sự hài hoà về tỷ lệ
giữa kích thước ô cửa và bề mặt toà nhà
luôn là một chuẩn mực của kiến trúc Pháp cũ.
Không có chuyện trổ cửa vô lối, cả về
vị trí lẫn kích thước. Những căn biệt
thự có cánh cửa sơn nâu, hay xanh lá cây và trắng
(ở lớp cửa kính bên trong) đi với cái màu vàng
thuộc địa vẫn được sơn đi sơn
lại suốt mấy chục năm, như một thứ
“đặc sản” nhiệt đới sau những tán lá
sấu trên những con phố Hà Nội.
Về mặt kỹ thuật,
giải bài toán khí hậu có thể bằng nhiều cách,
nhưng để tạo ra cái cảm giác dễ chịu
một cách tự nhiên trước những tác động
của khí hậu, trước cái nóng cái lạnh tác
động vào da thịt, kèm theo một xúc cảm nào
đó về mùa, thì ngoài những ô cửa, quả là khó
có máy móc hay thiết bị nào làm nổi.